Máy lạnh kho đông chết lúc hai giờ sáng chủ nhật, tới sáng thứ hai nhiệt buồng đã lên −5 °C và 300 pallet thuỷ sản phải xin ý kiến chủ hàng. Băng tải chia hàng đứt dây đúng tuần đông nhất cuối năm, 40 cửa dock dồn ứ xe. Cẩu bãi hỏng bơm thuỷ lực khiến tàu chờ thêm nửa ngày. Ba chuyện này cùng một lẽ: đồ nghề chỉ được ngó tới khi đã nằm im. Bảo trì phòng ngừa là cách làm ngược lại, ngó tới trước khi hỏng, theo lịch hoặc theo số đo. Bài này bàn cách áp dụng cho thiết bị của kho, kho lạnh và cảng.
Bảo trì phòng ngừa là gì
Là những việc thay, bơm mỡ, siết, đo và soi làm theo lịch đã chốt trước hoặc theo số đo, với mục đích để thiết bị không hỏng ngang chừng trong ca. Ngược với sửa khi hỏng, nơi kho phải dừng việc, kêu thợ gấp, mua đồ thay giá gấp đôi và bồi hoàn cho chủ hàng. Ở kho và cảng, thứ cần phòng ngừa không phải máy gia công mà là xe nâng, xe đầu kéo, băng tải, máy chia hàng, cửa dock, máy lạnh, tủ điện, UPS, máy phát, cẩu bờ, cẩu bãi và AGV.
5 kiểu lịch bảo trì phòng ngừa
Theo mốc ngày
Cứ đến ngày là làm, không cần biết máy đang thế nào: thay dầu xe nâng mỗi 500 giờ chạy, rửa dàn ngưng máy lạnh mỗi ba tháng, bơm mỡ ổ trục băng tải mỗi tháng. Xếp lịch nhanh, giao cho tổ kho tự làm được, nhưng có lúc thay khi đồ còn dùng được, có lúc hỏng trước ngày.
Theo mức làm việc
Đếm số giờ chạy, số lần nâng, số km, số lần đóng mở, rồi làm khi chạm mốc. Xe nâng có đồng hồ giờ, cửa dock có đồng hồ đếm lượt, cẩu có đồng hồ đếm số lần nâng. Kiểu này công bằng hơn: xe chạy ba ca được ngó tới nhiều hơn xe chạy một ca.
Theo mức rủi ro
Xếp thiết bị theo 2 cột: hỏng thì thiệt mấy, và hay hỏng đến đâu. Máy lạnh kho đông và cẩu bờ đứng đầu bảng vì thiệt hại tính bằng trăm triệu mỗi giờ; xe nâng để dành đứng cuối. Tiền và giờ thợ dồn cho nhóm đầu bảng.
Đi tìm lỗi ngầm
Có những món chỉ làm việc khi có chuyện: còi báo nhiệt, máy phát để dành, van xả gas, phanh gấp của cẩu. Những món này có thể đã nằm im từ lâu mà không ai biết. Lịch thử theo mốc, ví dụ chạy máy phát có tải 30 phút mỗi tháng, là cách để biết chúng còn sống.
Theo số đo
Gắn đầu dò rung, nhiệt, dòng điện, gas; làm khi số đo đi lệch, không làm khi số đo còn trong ngưỡng. Nhiệt dàn ngưng nhích lên báo dàn bám bụi; dòng điện mô-tơ băng tải lên báo ổ trục kẹt; rung bánh xe nâng lạ báo ổ bi gần vỡ. Đây là kiểu rẻ nhất về sau nhưng cần gateway và phần mềm để gom số đo.
Chọn kiểu nào cho thiết bị nào trong kho và cảng
| Thiết bị | Kiểu lịch nên dùng | Việc làm |
|---|---|---|
| Xe nâng, xe đầu kéo | Theo giờ chạy + đi tìm lỗi ngầm | Dầu, lọc, phanh, lốp, ắc quy; thử còi lùi, đèn, phanh tay |
| Máy lạnh kho lạnh | Theo số đo + theo mốc | Nhiệt và gas, dòng máy nén, xả đá dàn lạnh, rửa dàn ngưng |
| Băng tải, máy chia hàng | Theo số đo + theo mức làm việc | Độ căng dây, dòng mô-tơ, ổ trục, mắt quang |
| Cửa dock, sàn nâng | Theo lượt đóng mở | Lò xo, ray, gioăng, bơm dầu ép sàn nâng |
| Cẩu bờ, cẩu bãi | Theo mức rủi ro + theo số đo | Cáp, phanh, ray, bơm dầu ép, đầu dò gió |
| Tủ điện, UPS, máy phát | Đi tìm lỗi ngầm | Chạy có tải, đo ắc quy UPS, siết đầu cốt, chụp nhiệt tủ |
| AGV, robot kho | Theo số đo | Ắc quy, bánh, đầu dò chống va, sai số dừng |
AGV và robot kho có thêm phần mềm riêng theo dõi sức khoẻ từng xe; cấu tạo của chúng được bàn trong bài robot AGV gồm những bộ phận gì.
Bốn thứ phải chốt trước khi xếp lịch
- Muốn gì: giữ nhiệt buồng, giữ băng tải chạy suốt ca đông hay giữ cẩu không dừng khi tàu vào. Muốn khác thì lịch khác.
- Lúc làm: kho hàng khô làm vào ca đêm hoặc ngày vắng xe; kho lạnh làm lúc buồng ít hàng nhất; cảng làm theo lịch tàu, né giờ tàu vào.
- Cách biết máy đang ra sao: nhìn và nghe, đồng hồ giờ, đầu dò nối mạng, hay chụp nhiệt bằng camera hồng ngoại. Chọn cách rẻ nhất vẫn cho biết trước lúc hỏng.
- Người và tiền: tổ kho tự làm việc lặt vặt, thợ hãng làm việc lớn; đồ thay hay hỏng để sẵn trong kho vật tư, thứ đắt và hiếm thì ký với hãng giao trong 24 giờ.
Bảo trì phòng ngừa trong kho lạnh có gì khác
Kho lạnh có 2 thứ hỏng thầm lặng: dàn lạnh bám đá và dàn ngưng bám bụi. Cả 2 làm máy nén chạy lâu hơn, ăn điện hơn và nóng hơn cho tới ngày nằm im hẳn. Đầu dò nhiệt ở đầu ra dàn lạnh và đồng hồ dòng máy nén là hai số đo rẻ nhất cho biết sớm. Lịch xả đá, rửa dàn và thử máy phát nên ghi ngay trong phần mềm kho lạnh, gắn với nhật ký nhiệt của lô hàng. Bài kho lạnh công nghiệp là gì có phần về cấu tạo dàn lạnh và máy nén.
Bảo trì phòng ngừa ở cảng có gì khác
Ở cảng, gió, muối và cát mặn gặm mọi thứ: cáp cẩu, đầu cốt trong tủ điện, vỏ máy tính ngoài trời. Lịch soi cáp và siết đầu cốt phải dày hơn kho có mái che. Cẩu bờ có cả trăm đầu dò và PLC riêng; số đo gửi về phần mềm cảng để đội sửa cẩu đọc giờ nâng, số lần phanh gấp, nhiệt mô-tơ. Cách gom số đo này vào một bức tranh chung được bàn trong bài cách làm cảng biển kiểu mới.
Đồ nghề và phần mềm cần có
- Phần mềm CMMS hoặc mô-đun bảo trì trong WMS, TOS: lưu lịch, phiếu việc, đồ thay, giờ thợ.
- Đầu dò rung, nhiệt, dòng điện nối về gateway; máy tính công nghiệp không quạt làm gateway trong tủ điện hoặc trên cẩu.
- Máy tính bảng công nghiệp cho thợ mang theo đọc phiếu việc, chụp hình, ký xong việc ngay tại chỗ.
- Camera nhiệt cầm tay soi tủ điện và ổ trục mỗi ba tháng.
Máy làm gateway hay máy trên cẩu phải chịu rung, nhiệt và bụi; cách chọn được bàn trong bài chọn cấu hình máy tính công nghiệp.
IPC247 nhận chọn cấu hình máy tính công nghiệp cho gateway gom số đo, máy trên cẩu, máy trong tủ điện kho lạnh và máy tính bảng cho thợ bảo trì tại kho và cảng, kèm demo thiết bị và người của IPC247 đi cùng khi ghép với CMMS, WMS hay TOS.
Câu hỏi thường gặp
Kho nhỏ chưa có phần mềm thì xếp lịch bảo trì phòng ngừa thế nào?
Một bảng tính với ba cột: thiết bị, việc, ngày làm tới, in dán tại phòng tổ kho là đủ để khởi đầu. Khi thiết bị nhiều hơn 30 món hoặc có kho lạnh, chuyển sang CMMS để có báo lịch và lưu phiếu việc.
Bảo trì theo số đo có cần dừng máy không?
Không. Đầu dò rung, nhiệt, dòng điện đọc khi máy đang chạy, số đo gửi về gateway và phần mềm. Chỉ dừng máy khi số đo đi lệch và tới lúc thay đồ, nên giờ dừng ít hơn hẳn kiểu soi theo mốc.
Máy tính làm gateway trên cẩu bãi cần gì?
Không quạt, chịu rung theo bài rung của hãng, dải nhiệt tới 60 °C, nguồn 9–36 V DC lấy từ cẩu, có cổng RS-485 hoặc CAN để đọc PLC cẩu, và vỏ hoặc tủ kín chống muối biển.



